Submit Property
click to enable zoom
Loading Maps
We didn't find any results
open map
View Roadmap Satellite Hybrid Terrain My Location Fullscreen Prev Next

$ 0 to $ 7,000

More Search Options

$ 0 to $ 1,500,000

More Search Options
We found 0 results. Do you want to load the results now ?
Advanced Search

$ 0 to $ 1,500,000

More Search Options
we found 0 results
Your search results

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư nhà phố thương mại shop house

Posted by sandatvang on 30/12/2017
| 0
5 (100%) 1 vote

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư nhà phố thương mại shop house

1.Các yếu tố xã hội:

Các yếu tố xã hội cũng tác động lớn đến giá trị đầu tư nhà phố thương mại shop house. Một khu vực mà mật độ dân số đột nhiên tăng cao do tốc độ tăng trưởng của dân số cơ học thì giá trị nhà phố thương mại shop house nơi đó sẽ tăng lên do cân bằng – cầu bị phá vỡ. Mặt khác, các yếu tố khác trong vùng như: chất lượng dịch vụ y tế, giáo dục, trình độ dân trí, vấn đề an ninh trong vùng có ảnh hưởng đến giá trị nhà phố thương mại shop house. Tình trạng những người sống cùng gia đình, quan hệ tình cảm gia đình và nhóm người tham khảo có ảnh hưởng đến quyết định đầu tư nhà phố thương mại shop house của nhà đầu tư cá nhân.

Nhóm người tham khảo: Nhóm người có ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của một cá nhân bao gồm nhóm có ảnh hưởng trực tiếp và nhóm gây ảnh hưởng gián tiếp tới người ra quyết định. Có những nhóm là nhóm sơ cấp, như gia đình, bạn bè, hàng xóm láng giềng và đồng nghiệp mà người đó có quan hệ giao tiếp thường xuyên. Các nhóm sơ cấp thường là có tính chất chính thức hơn và ít đòi hỏi phải có quan hệ giao tiếp thường xuyên hơn. Người ta chịu ảnh hưởng khá mạnh bởi các nhóm tham khảo ít nhất là theo ba cách. Các nhóm tham khảo tạo điều kiện để một cá nhân tiếp xúc với những hành vi và lối sống mới. Những nhóm này cũng ảnh hưởng đến thái độ và tự ý niệm của mỗi người, bởi vì người đó thường muốn hòa nhập vào đó. Những nhóm này tạo ra những áp lực buộc phải tuân theo những chuẩn mực chung và có thể tác động đến cách lựa chọn sản phẩm và nhãn hiệu trong thực tế của người đó.

2.Các yếu tố cá nhân

Khả năng tài chính của nhà đầu tư cá nhân: Yếu tố đầu tiên tưởng chừng như rất quen thuộc và đơn giản nhưng lại là yếu tố quyết định số một đến đầu tư nhà phố thương mại shop house: khả năng tài chính của nhà đầu tư. Nghiên cứu kỹ về quy hoạch, am hiểu thị trường và có một thương vụ béo bở nhưng mà đầu tư sẽ không thể biến việc đầu tư thành sự thật nếu không có tiền. Lượng vốn ban đầu của nhà đầu tư sẽ được dùng để trang trải các chi phí từ mua, xây dựng, vận hành, bảo trì, sữa chữa nhà phố thương mại shop house đến các chi phí liên quan như chi phí giao dịch, quảng cáo…

Tùy theo lượng vốn khác nhau mà nhà đầu tư có thể tham gia vào các dự án đầu tư có quy mô khác nhau. Sẽ rất khó khăn cho nhà đầu tư mới vào nghề với lượng vốn và kinh nghiệm ít ỏi. Với việc nguồn lực là có hạn, nhà đầu tư có thể cân nhắc trong việc đi vay để tăng thêm lượng vốn đầu tư của mình. Đó cũng chính là yếu tố thứ hai trong nhóm các yếu tố tài chính.

Tuổi tác: Người ta mua hàng hóa và dịch vụ khác nhau trong suốt đời mình. Thị hiếu của người ta về quần áo, đỗ gỗ và cách giải trí cũng tùy theo tuổi tác. Một số công trình mới đây đã xác định được tâm lý của từng lứa tuổi khi chọn mua và tiêu dùng một loại sản phẩm. Doanh nghiệp cũng cần theo dõi và nắm bắt những sự thay đổi về hoàn cảnh sống này vì chúng có tác động đến hành vi tiêu dùng.

Nghề nghiệp: Nghề nghiệp của một người cũng ảnh hưởng đến cách thức tiêu dùng của họ. Doanh nghiệp cần phải xác định những nhóm nghề nghiệp có quan tâm trên mức trung bình đến các sản phẩm và dịch vụ của mình. Doanh nghiệp có thể thậm chí chuyên môn hóa sản phẩm của mình cho những nhóm nghề nghiệp nhất định.

Lối sống: Những người cùng xuất thân từ một nhánh văn hóa, tầng lớp xã hội và cùng nghề nghiệp có thể có những lối sống hoàn toàn khác nhau. Lối sống của một người là một cách sống trên thế giới của họ được thể hiện ra trong hoạt động, sự quan tâm và ý kiến của người đó. Lối sống miêu tả sinh động toàn diện một con người trong quan hệ với môi trường của mình. Các doanh nghiệp sẽ tìm kiếm những mối quan hệ giữa sản phẩm của mình và các nhóm theo lối sống.

            Nhân cách và ý niệm bản thân: Mỗi người đều có một nhân cách riêng có ảnh hưởng đến hành vi của người đó. Ở đây nhân cách có nghĩa là những đặc điểm tâm lý khác biệt của một người dẫn đến những phản ứng tương đối nhất quán và lâu bền với môi trường của mình. Nhân cách thường được mô tả bằng những nét như tự tin có uy lực, tính độc lập, lòng tôn trọng, tính chan hòa, tính kín đáo và tính dễ thích nghi.

Nhân cách có thể là một biến hữu ích trong việc phân tích hành vi của người tiêu dùng, vì rằng có thể phân loại các kiểu nhân cách và có mối mối tương quan chặt chẽ giữa các kiểu nhân cách nhất định với các lựa chọn sản phẩm và nhãn hiệu hàng hóa.

3.Các yếu tố tâm lý

Tâm lý bầy đàn: Trên thế giới đã có nhiều minh chứng cho tâm lý bầy đàn như: khủng hoảng thị trường Tulip – Hà Lan (1634 – 1637), khủng hoảng Châu Á (1997), khủng hoảng dotcom.

Hẳn nhiều người trong chúng ta đã được biết đến thí nghiệm dưới đây: Cho một người đứng ở một góc phố và nhìn lên bầu trời trống không trong 60 giây. Một số người đi đường đã dừng lại để xem người kia nhìn gì nhưng rồi đa số cũng bước qua. Lần tiếp theo, các nhà tâm lý học cho năm người làm như vậy ở góc phố đó. Lần này số người dừng lại để quan sát đông gấp 4 lần. Khi cho 15 người đứng ở góc phố đó, có tới 45% số người qua đường dừng lại và khi tăng số người đứng ở góc phố thêm một lần nữa, có tới hơn 80% người đi đường phải ngẩng đầu quan sát theo. Vì sao lại như vậy? Vì người ta cho rằng nếu có nhiều người cùng nhìn lên bầu trời thì chắc chắn rằng trên bầu trời phải có gì đó. Đó là lý do vì sao càng có đông người, đám đông càng dễ bị ảnh hưởng: thêm một người là thêm một bằng chứng cho thấy có điều gì đó quan trọng đang xảy ra. Họ tin tưởng rằng nếu có rất nhiều người cùng thực hiện một việc gì đó thì việc đó nhất định đúng. Bằng chứng này cho thấy tất cả mọi người dường như là nếu không biết điều gì đang diễn ra thì tốt hơn hết là nên bắt chước những gì người khác đang làm. Tồn tại khách quan là thế đấy.

Thực tế trên đã cho ta nhìn nhận ra một vấn đề là con người rất dễ bị tác động bởi nhân tố xung quanh dù đặc biệt là những nhân tố về con người tác động lẫn nhau. Bạn cũng có thể thấy rất nhiều ví dụ trong thực tế là con người hành động theo tập thể cho dù không biết chắc điều đó là tốt hay xấu như là các trào lưu về thời trang, xe máy, chạy theo thần tượng một cách mù quáng.

Một cuộc khảo sát cơ bản về xã hội con người ràng con người, những người mà tiếp xúc với người khác một cách đều đặn thì có những suy nghĩ tương tự nhau. Nó rất là quan trọng để hiểu rõ nguồn gốc của cách suy nghĩ tương tự này, do đó chúng ta có thể đánh giá sự tin cậy của các lý thuyết dao động và suy đoán những cái mà từ thay đổi giá cả đến suy nghĩ sai lầm. Một phần lý do của việc phán đoán của con người thì giống nhau tại những thời điểm giống nhau là họ đang có những phản ứng với thông tin giống nhau. Ảnh hưởng xã hội có một tác động khổng lồ lên phán đoán cá nhân. Khi con người đối đầu với phán đoán của một nhóm lớn, họ có xu hướng thay đổi những câu trả lời của họ. Họ đơn giản nghĩ rằng tất cả những người khác có thể không sai. Họ phản ứng với thông tin mà nhóm lớn đã có phán đoán khác với họ. Đây là hành vi có ý thức. Trong cuộc sống mỗi ngày, chúng ta học rằng khi một nhóm lớn nhất trí trong phán đoán họ thì chắc chắn đúng (Shiller, 2000).

Yếu tố tâm lý “bầy đàn” thể hiện tương đối rõ nét nhất là ở trong giai đoạn đầu thị trường mới thành lập. Bạn có thể thấy rõ hiện tượng này qua biểu hiện giá của đa số các cổ phiếu đều lên hoặc đều xuống, giá cổ phiếu biến động tăng /giảm không phản ánh tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, mà chủ yếu do yếu tố tâm lý của người đầu tư trên thị trường. Sau này mới có sự phân hoá về biến động giá giữa các loại cổ phiếu khác nhau, tuy nhiên, hiện nay yếu tố này vẫn chiếm xu thế chủ đạo.

Do đó tâm lý bầy đàn cũng chiếm ưu thế rất lớn hiện hữu trên thị trường tài chính. Mọi người thường cảm thấy rằng không quan trọng để chống lại tâm lý đám đông. Đây là một ví dụ về sức mạnh của hành vi bầy đàn. Họ đi theo đám đông- một cách không tự chủ, nhưng để tránh sự chia rẽ và hơn nữa để tạo sức mạnh theo sau bầy đàn (Fromlet, 2001).

Thậm chí có những người có lý trí có thể tham gia vào bầy đàn khi họ quan tâm tới phán đoán của người khác, và thậm chí họ biết rằng người khác cũng đang hành xử trong bầy đàn. Hành vi – mặc dù có lý một cách riêng lẻ, đã tạo nên tâm lý đám đông cái mà không hề có lý và đã tạo nên một dao động trên thị trường. Lý thuyết này cũng chỉ ra rằng những nhà đầu tư trong ngắn hạn gây ảnh hưởng nhiều lên giá chứng khoán hơn những nhà đầu tư dài hạn. Những nhà đầu tư không tiếp cận với thông tin bên trong, hành xử vô ý thức theo “tin đồn” như thể họ đang nắm bắt thông tin.

Một yếu tố quan trọng nữa của bầy đàn là truyền miệng. Người ta, nói chung, tin tưởng bạn bè, họ hàng và đồng nghiệp hơn báo chí và truyền hình. Phương tiện truyền thông truyền thống, tivi, và radio có khả năng truyền thông tin, nhưng khả năng của chúng để tạo ra hành vi chủ động thì vẫn còn hạn chế. Hành vi nói với người khác và các loại giao tiếp cá nhân là một trong số những kết nối xã hội quan trọng mà con người có. Vì thế thông tin về cơ hội mua sẽ lan truyền nhanh chóng. Trong một nghiên cứu, những nhà đầu tư cá nhân được hỏi là cái gì cuốn hút họ đầu tiên khi họ đầu tư vào một công ty. Chỉ 6% trả lời là báo chí và thời gian. Thậm chí những người đọc báo và tạp chí rất nhiều thì sự quan tâm và phản ứng của họ vẫn bị khuấy động nhiều bởi những cuộc giao tiếp cá nhân.

Khái niệm về mức độ của giá thị trường phản ánh kết quả của việc đánh giá của nhà đầu tư cá nhân và kết quả là giá trị thật sự của thị trường thì không chính xác. Mọi người có thể thay vì chọn một cách có ý thức không tốn thời gian và nỗ lực trong việc thực hiện những phán đoán của họ về thị trường và vì thế không sử dụng bất kỳ tác động độc lập nào trên thị trường, điều này có thể dẫn tới hành vi bầy đàn và hành xử giống như nguồn thông tin để định giá trên hay dưới của thị trường chứng khoán.

Động cơ: Tại bất kỳ một thời điểm nhất định nào con người cũng có nhiều nhu cầu. Chúng nảy sinh từ những trạng thái căng thẳng về sinh lý như đói, khát, khó chịu. Một số nhu cầu khác có nguồn góc tâm lý. Chúng nảy sinh từ những trạng thái căng thẳng về tâm lý, như nhu cầu được thừa nhận, được kính trọng hay được gần gũi về tinh thần. Một động cơ hay một sự thôi thúc là một nhu cầu đã có đủ sức mạnh để thôi thúc người ta hành động. Việc thỏa mãn nhu cầu sẽ làm giảm bớt cảm giác căng thẳng như việc đi du lịch, mua sắm, xe cộ, việc quyết định đầu tư nhà phố thương mại shop house. Các nhà tâm lý học đã phát triển những lý thuyết về động cơ của cong người. Trong số những lý thuyết nổi tiếng nhất có lý thuyết động cơ của Abraham Maslow.

Abraham Maslow đã tìm cách giải thích tại sao ở những thời điểm khác nhau, người ta lại bị thôi thúc bởi những nhu cầu khác nhau. Ông cho rằng nhu cầu của con người được xắp xếp trật tự theo thứ bậc, từ cấp thiết nhất đến ít cấp thiết nhất. Theo thứ tự tầm quan trọng các nhu cầu đó được xắp xếp như sau: Nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu được tôn trọng, nhu cầu tự khẳng định mình. Con người sẽ cố gắng thỏa mãn trước hết là những nhu cầu quan trọng nhất. Khi người ta đã thỏa mãn được một nhu cầu quan trọng nào đó thì nó sẽ không còn động cơ hiện thời nữa và người ta lại cố gắng thỏa mãn nhu cầu quan trọng nhất tiếp theo.

Nghiên cứu của Solomon (2011) cho thấy động cơ là “quá trình dẫn con người đến hành động mà họ thực hiện”. Nhà đầu tư thường nhận thấy và sẽ chấp nhận những động cơ nguyên nhân hành động của họ.

Nhận thức: Một người khi đã có động cơ luôn sẵn sàng hành động. Vấn đề người có động cơ đó sẽ hành động như thế nào trong thực tế còn chịu ảnh hưởng từ sự nhận thức của người đó về tình huống lúc đó. Tại sao người ta lại có nhận thức khác nhau về cùng một tình huống? Vấn đề là ở chỗ chúng ta nắm bắt sự vật là tác nhân thông qua những cảm giác truyền qua năm giác quan của mình: Thị giác, thính giác, khứu giác, xúc giác và vị giác. Tuy nhiên, mỗi người chúng ta lại suy xét, tổ chức và giải thích thông tin cảm giác đó theo cách riêng của mình. Nhận thức được định nghĩa là “một quá trình thông qua đó cá thể tuyển chọn, tổ chức và giải thích thông tin tạo ra một bức tranh có ý nghĩa về thế giới xung quanh”. Nhận thức không chỉ phụ thuộc vào những tác nhân vật lý, mà còn phụ thuộc vào cả mối quan hệ của các tác nhân đó với môi trường xung quanh và những điều kiện bên trong cá thể đó.

Tri thức: Khi người ta hành động họ cũng đồng thời lĩnh hội được tri thức mô tả những thay đổi trong hành vi của cá thể bắt nguồn từ kinh nghiệm. Hầu hết hành vi của con người đều được lĩnh hội. Các nhà lý luận về tri thức cho rằng tri thức của một người được tạo ra thông qua sự tác động qua lại của những thôi thúc, tác nhân kích thích, những tấm gương, những phản ứng đáp lại và sự củng cố. Một doanh nghiệp mới có thể tham gia thị trường bằng cách vận dụng những sự thôi thúc mà các đối thủ cạnh tranh đã sử dụng và tạo ra những kiểu dáng tương tự, bởi vì người mua có khuynh hướng chuyển lòng trung thành sang những nhãn hiệu tương tự hơn là sang những nhãn hiệu khác hẳn.

Niềm tin và thái độ: Thông qua việc hoạt động tri thức, con người có được niềm tin và thái độ. Nhưng yếu tố này lại có ảnh hưởng đến hành vi mua sắm của con người cũng như việc quyết định tới đầu tư nhà phố thương mại shop house. Thái độ diễn tả những đánh giá tốt hay xấu dựa trên sự nhận thức bền vững, những cảm giác cảm tính và những xu hướng hành động của một người đối với một khách thể hay một ý tưởng nào đó. Thái độ dẫn họ đến quyết định thích hay không thích một đối tượng nào đó, đến với nó hay rời xa nó. Rất khó thay đổi được thái độ. Vì thế, người ta khuyên doanh nghiệp nên làm cho sản phẩm của mình phù hợp với những thái độ sẵn có, chứ không nên cố gắng thay đổi thái độ của mọi người. Đương nhiên, cũng có những trường hợp ngoại lệ khi mà chi phí rất tốn kém cho những nỗ lực nhằm thay đổi thái độ được bù đắp lại một cách thỏa đáng.

THÀNH CÔNG TRONG ĐẦU TƯ BẤT ĐỘNG SẢN PHỤ THUỘC VÀO TẦM NHÌN TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG THỊ TRƯỜNG CỦA BẠN

SÀN GIAO DỊCH BĐS ĐẤT VÀNG GROUP

Trụ sở chính: A21-22 Đường D4, phường Tân Hưng, Q7, TPHCM.

VP1: 127A Nguyễn Cao, Phú Mỹ Hưng, Q7, TPHCM.

VP2: 743 Đỗ Xuân Hợp, phường Phú Hữu, Q9, TPHCM.

Website: www.datvanggroup.com

Hotline: 09 199 09 399 – 094 9999 524

Leave a Reply

Your email address will not be published.